Tuesday, 27 February 2007

Bất động sản

“Thời cơ vàng” để phát triển thị trường bất động sản cho thuê

Trong khi thị trường bất động sản nói chung đang trầm lắng thì có một phân khúc thị trường lại nóng lên với việc hàng loạt khu căn hộ cao cấp và văn phòng, cửa hàng... cho thuê rục rịch tăng giá. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Hùng Võ đã phân tích nguyên nhân của hiện tượng trên và đưa ra một số định hướng để phát triển phân khúc thị trường này khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư Chứng khoán cuối tuần qua.

Ông đánh giá như thế nào về thị trường bất động sản cho thuê hiện nay?
Từ trước đến nay, khi nói về thị trường bất động sản, chúng ta thường chỉ nhấn mạnh vào thị trường nhà và đất ở, nhưng trên thực tế, thị trường này là một lĩnh vực rộng lớn hơn nhiều, trong đó bao gồm thị trường bất động sản cho thuê. Cụ thể như khi Hội nghị APEC tổ chức tại Việt Nam vào cuối năm nay, liệu chúng ta có đủ khách sạn cho khách nước ngoài đến thuê không? Vì vậy, theo tôi, thị trường khách sạn, nhà ở cao cấp cho thuê, văn phòng cho thuê, cửa hàng cho thuê... hiện nay đang có nhu cầu rất lớn, cung không đủ cầu. Đặc biệt, nếu Việt Nam phấn đấu tốt thì có thể trở thành một trung tâm của thế giới về tổ chức hội nghị, thu hút về đầu tư... vì hiện nay nước ta là một quốc gia an toàn. Bên cạnh đó, giá sinh hoạt rất rẻ, người dân lại hiếu khách cũng là một thế mạnh thu hút người nước ngoài đến Việt Nam. Với những lợi thế như trên thì chúng ta đang đứng trước một “thời cơ vàng” để phát triển thị trường bất động sản cho thuê.

Ông lý giải ra sao về việc chủ đầu tư các dự án bất động sản cho thuê quyết định tăng giá trong khi thị trường nói chung đang trầm lắng?
Nguyên nhân khiến thị trường cho thuê nóng lên là do một thời gian dài bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực, rồi dịch SARS, dịch cúm gia cầm... nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản đã ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam. Mặc dù Việt Nam không bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nói trên nhưng các nhà đầu tư nước ngoài chỉ biết là khu vực Đông Nam Á đang bị khủng hoảng. Thời gian đó, những khách sạn quốc tế 4, 5 sao của Việt Nam gần như đóng cửa. Chính những tác động đó làm cho thị trường cho thuê bị xem là đã hết nhu cầu nên không ai làm nữa. Sau một thời gian, đến nay nhu cầu trong khu vực này “sống” trở lại thì thị trường lại không đáp ứng đủ hàng nên những người có hàng mới có thể tăng giá lên được.

Ông có ủng hộ việc nâng giá này không?
Không có luật nào cấm nhà đầu tư không được nâng giá sản phẩm của họ cả. Vấn đề ở đây là Nhà nước cần điều tiết bằng chính sách để người ta không thể nâng giá tuỳ tiện được. Đây chính là vai trò quan trọng của Nhà nước.
Trong Đề án phát triển thị trường bất động sản mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xây dựng cũng sẽ phải đưa ra cho được những giải pháp nhằm khuyến khích đầu tư vào thị trường bất động sản cho thuê như: thuế tính như thế nào; tạo quỹ đất để ưu tiên phát triển lĩnh vực này ra sao; rồi quy hoạch sử dụng đất cũng phải tăng lượng đất cho thị trường cho thuê bao nhiêu; và đã đầu tư xây dựng để cho thuê thì không được bán nữa để nhà đầu tư xác định rõ khi đã đầu tư vào lĩnh vực cho thuê thì chỉ cho thuê thôi... Những nội dung trên phải có các chính sách cụ thể để khuyến khích thị trường cho thuê.

Vậy là theo ông, chúng ta cần phải khuyến khích phát triển thị trường này?
Vấn đề ở đây là phải biết kêu gọi đầu tư bằng cách tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích đầu tư vào khu vực tạo lập bất động sản cho thuê. Khi hàng đã nhiều lên thì tự thị trường sẽ cân đối lại. Theo tôi, thị trường có quy luật riêng của nó, và quản lý nhà nước là phải làm sao tận dụng cao nhất tính quy luật của thị trường để đưa ra những chính sách phù hợp nhằm làm được những cái mà Nhà nước đang cần. Nói rộng hơn, Nhà nước cần tạo ra được hành lang pháp lý phù hợp để khuyến khích thị trường bất động sản phát triển. Ví dụ như lĩnh vực nào cần khuyến khích thì chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Ngược lại, lĩnh vực nào của thị trường không cần khuyến khích thì phải quy định chặt chẽ hơn.

Qua sự việc trên, bài học mà các cơ quan quản lý nhà nước rút ra là gì?
Theo tôi, trong lĩnh vực quản lý nhà nước, chúng ta rất cần có một tầm nhìn dài hạn hơn để có những bước quy hoạch phát triển, có những chính sách hỗ trợ, rồi cả chính sách ngăn cản cho phù hợp để không bị đi hẫng hụt. Tất cả những bước hẫng hụt của thị trường đều tác động không tốt tới phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển thị trường bất động sản nói riêng. Ví dụ như hiện nay thị trường cho thuê đang khan hiếm hàng. Vậy 4-5 năm trước đây, khi thị trường này gần như đóng cửa, nếu chúng ta nhìn được tương lai của 5 năm sau thì chắc chắn vấn đề đã khác. Khi đó, Nhà nước có thể hỗ trợ, khuyến khích phát triển thị trường cho thuê ở một mức độ nhất định để không đến mức khan hàng như hiện nay. Vì vậy, bài học ở đây là các cơ quan quản lý cần có tầm nhìn dự báo, tầm nhìn quy hoạch trong quản lý nhà nước.

Bất động sản

“Nhạt nhoà” số thu từ nhà đất

Có thể năm 2006 là năm thứ 2 liên tiếp ngành thuế gặp khó khăn trong việc thu các khoản liên quan đến nhà đất. Năm 2005, mặc dù các khoản thu từ nhà đất vẫn đạt dự toán, nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 2,2% so với năm 2004 (năm 2003 tăng gần 80%, năm 2004 tăng 64,5%). Nguyên nhân được cho là do thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, mà cụ thể ở đây là Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai và Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất.

Theo số liệu của Tổng cục Thuế, năm 2005 tiền thu sử dụng đất (SDĐ) chỉ đạt 13.903 tỷ đồng, giảm 2,1% so với năm 2004, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng thu tiền SDĐ năm 2002 đạt 73,5%; năm 2003 đạt 151,2% và năm 2004 đạt 74,3%. Nguyên nhân là do giá nhà đất tăng mạnh (một phần do tác động của các chính sách về đất đai), thị trường bất động sản rơi vào tình trạng "chợ chiều". Mặt khác, do quy định không được phân lô bán nền, cộng với việc lãi suất ngân hàng liên tục được đẩy lên đã khiến nhiều nhà đầu tư trốn chạy khỏi thị trường bất động sản. Bên cạnh tiền thu SDĐ, các khoản thu liên quan đến nhà đất khác năm 2005 cũng giảm mạnh: tiền cho thuê đất chỉ bằng 94,4% (đạt 799 tỷ đồng), tiền bán nhà chỉ bằng khoảng 66% (đạt 882 tỷ đồng) so với năm 2004. Những nhân tố này góp phần đáng kể vào việc giảm tốc độ tăng thu từ nhà đất.

"Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 17/2006/NĐ-CP (sửa đổi 2 nghị định trên và Nghị định 182/2004/NĐ-CP, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 187/2004/NĐ-CP), chúng tôi hy vọng thị trường bất động sản sẽ phục hồi, từ đó sẽ tăng thu được các khoản từ nhà đất vào ngân sách nhà nước. Thế nhưng, qua 4 tháng thực hiện Nghị định 17/2004/NĐ-CP, tình hình vẫn chưa được cải thiện, thậm chí thu ngân sách từ các khoản liên quan đến nhà đất còn giảm so với cùng kỳ năm 2005", một quan chức Tổng cục Thuế phát biểu với Đầu tư Chứng khoán.
Số liệu của Tổng cục Thuế cho thấy, 4 tháng đầu năm, các khoản thu từ nhà đất ước đạt 27,1% dự toán năm, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm đến 76% các khoản thu liên quan đến nhà đất) là tiền SDĐ giảm 11,8% (năm 2005 tăng 117,7%), số thu ước giảm 758 tỷ đồng.
Nguyên nhân của việc giảm thu tiền SDĐ, theo phân tích của ngành thuế là do một số địa phương có số thu lớn như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Bình Thuận, Đà Nẵng… giảm mạnh. Đơn cử như Hà Nội, số tiền SDĐ phải thu qua đấu giá 4 tháng đầu năm phát sinh khoảng 1.000 tỷ đồng, nhưng trên thực tế mới thu được 175 tỷ đồng, bằng 14,5% so với cùng kỳ năm 2005; số thu từ tiền SDĐ ở TP.HCM chỉ bằng 95,2% so với cùng kỳ do hạ tầng chưa hoàn thiện, chưa bàn giao; số thu từ tiền SDĐ ở Bình Thuận, Hải Phòng chỉ bằng 68,2 và 69,4% so với cùng kỳ… "Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở, mặc dù Nghị định 17/2006/NĐ-CP đã tháo gỡ khó khăn về vốn và khơi thông thị trường giao dịch bất động sản, song đến thời điểm này, mặc dù giá nhà đất đã hạ, nhưng vẫn còn quá cao so với mức thu nhập của người dân nên số thu ngân sách không đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, nhiều chủ đầu tư vẫn gặp khó khăn về tài chính do lượng vốn tồn đọng trong các dự án lớn khiến số ngân sách thu được không nhiều", vị quan chức trên nói.
Nghị định 17/2006/NĐ-CP cho phép ghi nợ tiền cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ không thời hạn đối với hộ gia đình, cá nhân chưa đủ khả năng về tài chính để nộp tiền (hộ, gia đình cá nhân chỉ phải nộp tiền cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ khi thực hiện việc chuyển nhượng tiếp theo), nhưng hiện Bộ Tài chính chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể trường hợp nào được ghi nợ, trường hợp nào phải nộp ngay nên cơ quan thuế không thu được tiền cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ. Cũng do chưa có thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 17/2006/NĐ-CP nên hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ hiện còn tồn đọng khá lớn cũng khiến ngân sách giảm thu từ nguồn này (chỉ tính riêng tại 14 quận, huyện tại Hà Nội và TP. HCM hiện còn tồn đọng 10.000 - 11.000 hồ sơ đề nghị cấp "sổ đỏ", với số tiền ước vào khoảng 1.000 tỷ đồng).
"Các khoản thu từ nhà đất giảm kéo theo hàng loạt sắc thuế khác liên quan đến thị trường bất động sản giảm theo như lệ phí trước bạ, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, tổng công ty xây dựng", vị quan chức trên nói và dẫn chứng, Công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng năm nào cũng đóng góp cho ngân sách nhà nước rất lớn, nhưng 4 tháng đầu năm 2006 đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, 4 tháng đầu năm 2005, Công ty này nộp ngân sách 375 tỷ đồng, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp là 247 tỷ đồng thì 4 tháng đầu năm 2006 mới nộp ngân sách 96 tỷ đồng, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp là 55,5 tỷ đồng.

Bất động sản

Xử lý vấn đề tái định cư phải đảm bảo lợi ích cả 3 bên

TS. Nguyễn Minh Phong, Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu kinh tế - xã hội Hà Nội cho rằng, xử lý vấn đề tái định cư phải xuất phát từ quan hệ bình đẳng lợi ích của các bên liên quan gồm Nhà nước, nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi.

Theo ông, lợi ích của bên nào hiện chưa được đặt đúng chỗ?

Lợi ích của người dân. Hiện có quan điểm cứng nhắc là khi giao mặt bằng cho nhà đầu tư hoặc để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thì Nhà nước thu được nhiều lợi ích. Thứ nhất, Nhà nước có điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và tái kết cấu lại toàn bộ bộ mặt của nền kinh tế, cũng như đời sống xã hội. Thứ hai, Nhà nước thu lợi ích trong tương lai (thuế, phí, lệ phí và giảm gánh nặng tạo công ăn việc làm) do nhà đầu tư mang lại khi dự án đi vào hoạt động. Từ quan điểm này, người ta ít quan tâm đến lợi ích của người dân có đất bị thu hồi, thậm chí đối phó với lợi ích của người dân.


Có nghĩa là phải coi trọng hơn nữa lợi ích của người dân?
Không phải bây giờ chúng tôi mới nêu ra quan điểm này, mà ngay từ năm 1999, chúng tôi đã xây dựng Đề án Cơ chế tài chính để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng ở Hà Nội. Trong đó, chúng tôi đặt vấn đề giá đền bù giải toả mặt bằng phải ngang bằng giá thị trường tại thời điểm giải toả. Nhưng rất tiếc, quan điểm này không được chấp thuận, bởi nhiều người cho rằng, ngân sách nhà nước không đủ để thực hiện, nên vẫn tiếp tục cơ chế giá cứng nhắc, áp đặt.

Hệ quả là gì, thưa ông?
Người dân tập trung để đối phó lại, kiện tụng vượt cấp, gây xáo trộn đời sống một bộ phận người dân, diện tích đất đai bị bỏ hoang hoá, doanh nghiệp không có diện tích để mở rộng sản xuất - kinh doanh, giảm hiệu quả đầu tư và Nhà nước cũng không thu được lợi ích (do nhà đầu tư không triển khai được dự án).

Nhưng khó có thể bảo đảm đồng thời cả 3 lợi ích trên?
Lợi ích ở đây là không phải đối tượng nào được hưởng nhiều hơn đối tượng nào, mà chính là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của từng đối tượng liên quan; bình đẳng giữa các loại dự án (công ích, kinh doanh); bình đẳng giữa các dự án; giữa người dân bị giải toả trong cùng một dự án... Nhà nước phải giữ vai trò là người quản lý đất đai, công thổ và tạo ra sự bình đẳng. Nếu phó mặc cho nhà đầu tư giải quyết vấn đề giải phóng mặt bằng, thì sẽ dẫn đến mất bình đẳng.

Bình đẳng có thể giải quyết được khâu giải toả mặt bằng, nhưng về lâu dài, người bị giải toả vẫn là người bị thua thiệt?
Vì vậy, bình đẳng phải được thực hiện trên quan điểm toàn diện và đồng bộ. Toàn diện chính là việc tái định cư, bao gồm nhà tái định cư phải bảo đảm chất lượng, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của nhà tái định cư và cảnh quan xung quanh vùng tái định cư phải bảo đảm để người dân trả lại mặt bằng có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ. Ngoài ra, khi thực hiện giải toả, chủ dự án, Nhà nước phải tạo việc làm, tạo điều kiện để người bị giải toả tự tìm được việc làm trước mắt và lâu dài để tránh tình trạng người bị giải toả cầm tiền tiêu hết và rơi vào cảnh thất nghiệp. Còn đồng bộ chính là việc quản lý nhà nước ở nơi tái định cư để tránh tình trạng nhiều khu tái định cư bị "bỏ rơi" như hiện nay. Nếu không thực hiện bình đẳng - đồng bộ và toàn diện, thì ngoài hậu quả trên còn dẫn tới lãng phí, tiêu cực. Đơn cử, việc Nhà nước xây nhà tái định cư cho dân, dân không đến ở do chất lượng xây dựng kém, môi trường sinh hoạt không phù hợp, không có cơ sở hạ tầng đáp ứng đời sống sinh hoạt sẽ dẫn đến lãng phí. Việc người dân xây nhà tạm bợ, thậm chí xây hàng trăm ngôi nhà không móng trên diện tích đất trước khi giải toả để được nhận đền bù cao, vừa dẫn đến lãng phí, vừa dẫn đến tiêu cực.

Nhưng lấy đâu ra tiền để xây dựng những khu tái định cư bảo đảm những điều kiện như ông nói?
Ở Trung ương phải thành lập quỹ tài chính tái định cư quốc gia, ở địa phương thành lập quỹ tài chính tái định cư cấp tỉnh, thậm chí ở những thành phố lớn, những địa phương mà nền kinh tế đang chuyển mạnh từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ cũng phải thành lập quỹ tài chính tái định cư cấp huyện. Nguồn cho quỹ này bao gồm nguồn do ngân sách cấp dưới dạng đầu tư vào kinh tế - xã hội, nguồn lấy từ chính các dự án được hưởng lợi từ việc đền bù giải toả mặt bằng (dự án nào được hưởng lợi, thì phải có nghĩa vụ đóng góp một khoản tài chính vào quỹ này) và nguồn từ đấu giá quyền sử dụng đất. Chỉ có nguồn tài chính đủ mạnh mới giúp thúc đẩy việc giải toả mặt bằng. Bởi, nó tránh được trường hợp người dân đồng ý giá đền bù, thì lại không có nguồn kịp thời để chi trả và khi có nguồn, thì giá đất đã tăng và người dân lại không chấp nhận. Mặt khác, cũng tránh được kiện cáo xảy ra do người nhận đền bù trước thì được ít, người trây ỳ thì được nhiều.

Monday, 26 February 2007

Môi trường kinh doanh

Lỗi hệ thống

Các nhà đầu tư trong lĩnh vực xây dựng nhà ở, khu đô thị mới… đang tiếp tục bị quay cuồng trong vòng rối rắm của hàng loạt quy định về thủ tục đầu tư khi những than phiền của họ vẫn chưa được giải quyết. Điều đáng nói là những quy định chồng chéo này lại được ban hành ở cùng một cấp trong gần như cùng một thời điểm và có hiệu lực cùng một lúc. Câu hỏi từ phía các nhà đầu tư là, tại sao các cơ quan quản lý nhà nước không thể ngồi lại với nhau trước khi đưa ra các yêu cầu đối với nhà đầu tư. Và cách quản lý theo kiểu “tiện cho cơ quan nhà nước” một lần nữa bị đưa ra mổ xẻ.

Trao đổi với phóng viên ĐTCK, ông Đỗ Nhất Hoàng, Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phân tích, các thủ tục đầu tư xây dựng nhà ở với các yêu cầu về thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án cùng một lúc phải chịu khoảng vài nghị định hướng dẫn, và hơn thế, không thủ tục nào chịu nhường bước trước thủ tục nào. Có nghĩa là các nhà đầu tư sẽ phải lập dự án để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, lập dự án để qua được các cửa phê duyệt dự án đầu tư của ngành xây dựng…
Rõ ràng, một dự án đầu tư xây dựng phải qua rất nhiều bước thẩm tra, thẩm định của các cơ quan khác nhau cho cùng những nội dung quy hoạch kiến trúc, đất đai, môi trường. Nhưng điều quan trọng là các dự án này cho dù đã có được chứng nhận đầu tư thì cũng không thể triển khai được nếu như không qua được bước thẩm định của các cơ quản lý chuyên ngành về chính các nội dung đã được thẩm định, thẩm tra trước đó. Một cách tổng quát thì có thể thấy, giấy chứng nhận đầu tư trong trường hợp này trở nên vô nghĩa.
Thực ra tình trạng “không ai chịu ai” trong quản lý nhà nước không phải là cá biệt. Và hệ quả của nó thường là hàng loạt các yêu cầu về xin chấp thuận, cho ý kiến bằng văn bản… của các cơ quan khác nhau. Các văn bản này không đơn giản chỉ là ý kiến một cách đúng bản chất của nó, mà thực ra là một điều kiện phải có để hoàn thành hồ sơ đối với một hoạt động gì đó của doanh nghiệp (DN), mà ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) gọi là một hình thức “giấy phép của giấy phép”.
Một ví dụ đơn giản nhưng điển hình là yêu cầu phải xin xác nhận của chính quyền địa phương trong hồ sơ lý lịch có ở hầu hết các điều kiện để xin được chứng chỉ hành nghề. Thậm chí, để có được giấy phép hoạt động giới thiệu việc làm, yêu cầu xác nhận của chính quyền còn được ghi rõ là xác nhận đạo đức tốt. “Trách nhiệm của chính quyền địa phương đến đâu trong việc xác nhận điều này, và hơn thế việc yêu cầu một người phải chứng minh mình vô tội là trái với pháp luật Việt Nam”, ông Cung nói.
Cũng trong sự thuận tiện để quản lý này, có tình trạng phân khúc rạch ròi đến mức khó hiểu. Các cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế sau khi được cấp phép bởi Bộ Thương mại sẽ phải xin giấy phép thu ngoại tệ tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước. Nghĩa là một cơ quan cho phép bán hàng, còn một cơ quan cho phép thu tiền.
Trong trường hợp của các cơ sở in xuất bản phẩm lại rắc rối theo kiểu quy định cơ sở của các cơ quan, tổ chức Trung ương thì do Cục Xuất bản chịu trách nhiệm trước Bộ Văn hoá - Thông tin cấp phép; cơ sở của cơ quan, tổ chức thuộc địa phương do Sở Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp giấy phép. “Nếu như một cơ sở in của cơ quan Trung ương có trụ sở tại Cà Mau thì sẽ rất tốn kém cho DN khi phải ra tận Hà Nội để xin giấy phép. Doanh nghiệp trong lĩnh vực này sẽ được coi là cơ sở của Trung ương hay địa phương”, ông Cung đặt vấn đề.
Nhiều chuyên gia đã gọi cách quản lý này là quản lý theo tên gọi. Sự phân biệt công việc theo tên gọi đã kéo theo các hình thức quản lý thuận tiện như vậy. Điều này có nghĩa là nếu như không có cách nhìn nhận công việc đúng bản chất thì sẽ khó có thể có cách quản lý nào khác hơn. Việc ngành điện mới đây công bố cách tính nội suy cho các hộ sử dụng điện không chốt được số công tơ trước ngày 1/1/2007 - thời điểm tăng giá điện, cũng là một ví dụ của cách quản lý “tiện cho mình”. Và người dân, nhà đầu tư, DN sẽ buộc phải vận hành theo đúng mô hình mà các cơ quan quản lý nhà nước đang làm để được việc. Song, theo bà Phạm Chi Lan, nguyên chuyên viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, chính đây là một trong những lý do giải thích tại sao việc áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO của cả DN Việt Nam cũng như của cơ quan quản lý nhà nước lại khó khăn đến vậy.

Google